I. KHI NGƯỜI TRỒNG CHÈ CÒN NHIỀU NỖI LO
Cây chè gắn bó với nhiều thế hệ người dân Đồng Tâm và là nguồn thu nhập chính của không ít gia đình. Tuy nhiên, sản xuất còn nhỏ lẻ, mỗi hộ làm theo một cách nên chất lượng nguyên liệu thiếu đồng đều. Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ cỏ còn phổ biến, ảnh hưởng đến đất đai, nguồn nước và sức khỏe người sản xuất.
Đầu ra chủ yếu phụ thuộc thương lái. Đến vụ thu hái, người dân thấp thỏm chờ người mua; giá cả thay đổi, có lúc được mùa nhưng giá thấp. Công chăm sóc nhiều tháng không mang lại thu nhập tương xứng, khiến một số hộ từng tính chuyện thu hẹp diện tích chè.
Trước thực tế đó, cấp ủy, chi bộ, Ban công tác Mặt trận và các đoàn thể trong thôn cùng bàn cách tháo gỡ. Muốn giữ cây chè phải đổi cách sản xuất; muốn người dân làm theo, cán bộ, đảng viên phải làm trước và chứng minh bằng hiệu quả.

Hình ảnh đồi chè thôn Đồng Tâm, xã Nhữ Khê
II. LẤY VIỆC LÀM THỰC TẾ ĐỂ VẬN ĐỘNG
Cán bộ, đảng viên và người có uy tín đến từng hộ, gặp bà con ngay trên nương chè để tìm hiểu khó khăn, giải thích quy trình và cùng tính bài toán chi phí, đầu ra. Những băn khoăn được lắng nghe thẳng thắn: ghi nhật ký có phức tạp không, dùng phân hữu cơ có giảm năng suất không, làm chè sạch rồi có bán được giá cao hơn không?
Không áp đặt, những người tiên phong làm trước trên diện tích chè của gia đình. Từ đó, Tổ sản xuất trà xanh VietGAP thôn Đồng Tâm được thành lập với 9 thành viên, quản lý 8,3 ha chè. Các thành viên thống nhất quy trình chăm sóc, thu hái, quản lý vùng nguyên liệu; cùng học cách ủ phân hữu cơ, sử dụng chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thảo mộc và nói không với thuốc trừ cỏ.


Hình ảnh những búp chè tươi được hái đúng quy chuẩn
Người trong Tổ vừa làm, vừa hướng dẫn, vừa nhắc nhau tuân thủ quy trình. Nhật ký sản xuất được ghi đầy đủ; thời gian bón phân, phun thuốc và thu hái được kiểm soát. Khi những luống chè VietGAP cho búp đều, chất lượng ổn định, đất tơi xốp hơn, sự hoài nghi từng bước được thay bằng niềm tin.
Người dân dần hiểu sản xuất sạch không chỉ để bán được giá cao hơn, mà còn để bảo vệ sức khỏe, giữ gìn đất đai và xây dựng thương hiệu chung. Từ chỗ e dè, bà con chủ động học hỏi, cùng giám sát chất lượng. Công tác dân vận vì thế trở thành quá trình đồng hành giữa cán bộ, đảng viên với người dân.
III. NGƯỜI TRẺ TRỞ VỀ VÀ BÀI TOÁN ĐẦU RA
Khi vùng nguyên liệu dần hình thành, câu hỏi quyết định vẫn là: chè sạch sẽ được tiêu thụ ở đâu và với giá nào? Nếu đầu ra tiếp tục bấp bênh, rất khó duy trì niềm tin của người sản xuất.
Lời giải đến từ anh Nguyễn Quốc Toản, một người con của Đồng Tâm. Trong những năm học tập, làm ăn xa quê, anh có dịp tìm hiểu cách nhiều địa phương phát triển nông sản. Anh nhận thấy chất lượng mới chỉ là điều kiện đầu tiên; muốn nâng giá trị, người sản xuất còn phải xây dựng thương hiệu, ứng dụng công nghệ số, quảng bá trực tuyến và kết nối trực tiếp với khách hàng. Khi giảm bớt khâu trung gian, người làm ra sản phẩm có cơ hội nhận lại phần giá trị xứng đáng hơn.
Mỗi lần trở về, nhìn những đồi chè xanh tốt nhưng sản phẩm chủ yếu bán dưới dạng nguyên liệu, anh Toản càng trăn trở. Chè Nhữ Khê có chất lượng nhưng việc chế biến, bao bì, nhận diện thương hiệu và mở rộng thị trường chưa tương xứng với tiềm năng. Những điều học hỏi được trở thành động lực để anh về quê đầu tư cơ sở chế biến, phát triển trà Đồng Tâm và từng bước đưa sản phẩm lên các kênh bán hàng số.

Anh Nguyễn Quốc Toản, thôn Đồng Tâm hướng dẫn bà con cách hái chè đạt tiêu chuẩn
Sự gặp gỡ giữa Tổ sản xuất VietGAP và Hộ kinh doanh Nguyễn Quốc Toản tạo nên mối liên kết cùng có lợi. Người dân tạo ra nguyên liệu đúng quy trình; cơ sở thu mua, chế biến, đóng gói và đưa sản phẩm ra thị trường. Toàn bộ chè đạt tiêu chuẩn VietGAP được cam kết thu mua với giá cao hơn thị trường từ 20 đến 30%, giúp người trồng chè yên tâm đầu tư.
Cơ sở còn phối hợp kiểm tra vùng nguyên liệu, hướng dẫn thu hái theo tiêu chuẩn "một tôm, hai lá". Chè búp tươi được sao, vò, sấy, phân loại và đóng gói nhằm giữ hương thơm tự nhiên, vị chát dịu, hậu ngọt đặc trưng. Bao bì, thông tin sản phẩm và truy xuất nguồn gốc từng bước hoàn thiện; sản phẩm được giới thiệu qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và các kênh ngoài địa phương.
Chuỗi liên kết giúp người dân có đầu ra, giá bán tốt hơn; cơ sở có nguồn nguyên liệu đồng đều để xây dựng thương hiệu. Giá trị cây chè không còn dừng ở búp tươi bán tại nương mà được nâng lên qua chế biến, đóng gói và tiếp cận người tiêu dùng.

Anh Nguyễn Quốc Toản, thôn Đồng Tâm, xã Nhữ Khê bán hàng trên nền tảng số
IV. TRÁI NGỌT TỪ SỰ ĐỒNG THUẬN
Sau hơn một năm triển khai, mô hình đã tạo chuyển biến rõ rệt. Việc ghi nhật ký, sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học và tuân thủ thời gian cách ly trở thành nền nếp. Thuốc trừ cỏ được loại bỏ; ý thức thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật và giữ gìn môi trường vùng chè được nâng lên.
Đầu ra ổn định giúp các hộ yên tâm gắn bó với cây chè. Mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động tại cơ sở chế biến, với thu nhập bình quân trên 10 triệu đồng/người/tháng. Hiệu quả liên kết không chỉ nằm ở giá bán mà còn ở khả năng tạo sinh kế tại địa phương.

Mô hình chè tạo việc làm cho các lao động có thêm thu nhập
Sự thay đổi đáng quý nhất là cách nghĩ của người dân. Từ sản xuất riêng lẻ, bà con đã biết liên kết, chia sẻ kinh nghiệm, cùng kiểm soát chất lượng và giữ uy tín chung. Mỗi người hiểu rằng một hộ làm không đúng quy trình có thể ảnh hưởng đến cả vùng nguyên liệu và thương hiệu chè Đồng Tâm.
Thành công bước đầu cho thấy dân vận khéo phải bắt đầu từ lợi ích thiết thực của người dân. Cán bộ, đảng viên không chỉ nói để dân nghe mà phải cùng dân làm, giải quyết đúng điều dân đang lo và lấy kết quả làm thước đo. Khi được tôn trọng, được bàn bạc và nhìn thấy lợi ích rõ ràng, người dân sẽ tự giác thực hiện.

Hình ảnh sản phẩm được hoàn tất đưa đến tay khách hàng
Trên những triền đồi Đồng Tâm hôm nay, màu xanh của chè vẫn nối dài, nhưng câu chuyện phía sau những búp chè đã khác. Đó là sự thay đổi từ nhận thức đến hành động, là quyết tâm trở về quê hương của một người trẻ và sự gắn kết giữa người trồng chè với cơ sở tiêu thụ. Từ cách làm bình dị, kiên trì, mô hình đã chứng minh: khi ý Đảng gặp lòng dân, sức dân được khơi dậy, những khó khăn ở cơ sở sẽ từng bước tìm được lời giải.
Đơn vị dự thi: Nguyễn Thị Chính Bí thư Chi bộ thôn Đồng Tâm, xã Nhữ Khê, tỉnh Tuyên Quang.
Đơn vị liên kết tiêu thụ: Mô hình Dân Vận khéo hộ kinh doanh Anh Nguyễn Quốc Toản.